Chương trình SGK mới 2018
Kỹ năng đọc — hiểu — cảm thụ theo đặc trưng thể loại
Học Ngữ văn theo chương trình mới không học thuộc lòng bài mẫu, mà nắm chắc đặc trưng từng thể loại để tự tin giải mã mọi đề thi.
Khối Lớp 10: Thần thoại, Sử thi, Thơ trung đại & Truyền kỳ
Ngữ văn 10 • Tự sự dân gian
Sử thi anh hùng — Chiến thắng Mtao Mxây
Trích sử thi Đăm Săn (dân tộc Ê-đê). Nắm vững thi pháp sử thi hoành tráng:
- Nghệ thuật phóng đại, so sánh: Sức mạnh chàng Đăm Săn ngang tầm vũ trụ: “Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, tiếng nói vang xa như tiếng sấm đầu mùa”.
- Tinh thần cộng đồng: Cuộc chiến vì sự giàu mạnh của buôn làng, cảnh ăn mừng chiến thắng rộn rã cồng chiêng.
- Cách làm bài: Khai thác vẻ đẹp người tù trưởng anh hùng gắn liền với khát vọng thịnh vượng của cộng đồng.
Ngữ văn 10 • Thơ trung đại
Thơ Nôm Đường luật — Bảo kính cảnh giới (Bài 43)
Tác phẩm tiêu biểu của Ức Trai — Nguyễn Trãi, đánh dấu sự thuần Việt hóa thể thơ Đường luật:
- Bức tranh thiên nhiên ngày hè: Sức sống căng tràn qua thị giác và khứu giác: hòe lục, thạch lựu lựu, sen hồng tỏa ngát.
- Âm thanh đời sống: “Lao xao chợ cá làng ngư phủ / Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương” — hòa âm rộn rã của cuộc sống người lao động nghèo.
- Tấc lòng ái quốc ưu dân: Khát vọng cây đàn vua Ngu Thuấn để đem lại cuộc sống “Dân giàu đủ khắp đòi phương”.
Ngữ văn 10 • Văn xuôi cổ
Truyện truyền kỳ — Chuyện chức phán sự đền Tản Viên
Tác phẩm xuất sắc trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ thế kỷ 16:
- Hình tượng Ngô Tử Văn: Một kẻ sĩ cương trực, khảng khái, thấy sự gian tà không thể chịu được, đốt đền trừ hại cho dân.
- Chi tiết nghệ thuật kỳ ảo: Cuộc đối chất nơi cõi âm trước Diêm Vương, phản ánh khát vọng công lý của nhân dân trước thực tại bất công.
- Chủ đề cốt lõi: Chính nghĩa nhất định thắng gian tà, khí phách kẻ sĩ là rường cột quốc gia.
Khối Lớp 11: Phong trào Thơ Mới, Văn xuôi hiện thực & Tùy bút tài hoa
Ngữ văn 11 • Thơ Mới 1932 - 1945
Thơ lãng mạn — Vội vàng (Xuân Diệu) & Tràng giang (Huy Cận)
Bắt trọn cái tôi cá nhân sâu sắc, niềm khát khao giao cảm và nỗi buồn thời thế:
- Xuân Diệu trong “Vội vàng”: Quan niệm thời gian tuyến tính một đi không trở lại, giục giã sống mãnh liệt trọn vẹn từng phút giây tuổi trẻ.
- Huy Cận trong “Tràng giang”: Nỗi sầu nhân thế trước không gian vũ trụ rợn ngợp: “Lòng quê dợn dợn vời con nước / Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.
- Phương pháp phân tích: Phân tích nhạc điệu thơ, hệ thống thi ảnh tượng trưng và giọng điệu cảm xúc.
Ngữ văn 11 • Văn xuôi hiện thực
Truyện ngắn hiện thực — Chí Phèo (Nam Cao)
Đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám:
- Bi kịch tha hóa: Từ một nông dân hiền lành chất phác như đất bị nhà tù thực dân và sự tàn độc của Bá Kiến biến thành quỷ dữ.
- Sức mạnh thức tỉnh: Bát cháo hành của Thị Nở — biểu tượng của tình thương chân thật đã nhóm lại ngọn lửa lương tri nơi Chí Phèo.
- Tiếng kêu tuyệt vọng: “Ai cho tao lương thiện?” — bản cáo trạng đanh thép tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến chà đạp quyền làm người.
Ngữ văn 11 • Tùy bút tài hoa
Tùy bút — Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)
Nghệ thuật tùy bút bậc thầy tái hiện vẻ đẹp hùng vĩ Tây Bắc và người lao động mới:
- Hình tượng sông Đà: Vừa hung bạo hiểm trở với thác đá, thạch trận; vừa êm đềm trữ tình như mái tóc người thiếu nữ buông dài.
- Người lái đò trí dũng: Người nghệ sĩ trên sóng nước ghềnh thác, bình tĩnh điều khiển con thuyền vượt qua cửa ải sinh tử.
- Chất tài hoa uyên bác: Vận dụng kiến thức điện ảnh, địa lý, quân sự, hội họa vào miêu tả con sông.
Khối Lớp 12: Thơ ca cách mạng, Văn xuôi thời kỳ Đổi Mới & Ôn thi Tốt nghiệp
Ngữ văn 12 • Trường ca
Đất Nước — Nguyễn Khoa Điềm (Mặt đường khát vọng)
Sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị tạm chiếm miền Nam hướng về nhân dân, đất nước:
- Định nghĩa Đất Nước: Khởi nguồn từ những điều bình dị, thân thương: miếng trầu bà ăn, câu chuyện mẹ kể, hạt gạo nuôi sống con người.
- Tư tưởng cốt lõi: “Để Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân / Đất Nước của Ca dao Thần thoại”.
- Nghệ thuật: Vận dụng sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian (ca dao, cổ tích, tục ngữ) mà không sao chép nguyên xi.
Ngữ văn 12 • Thơ kháng chiến
Tây Tiến — Quang Dũng & Việt Bắc — Tố Hữu
Hai tượng đài thơ kháng chiến bất hủ của nền thi ca cách mạng:
- Tây Tiến: Cảm hứng lãng mạn hòa quyện chất bi tráng; hình tượng người lính thủ đô vừa chịu gian khổ sốt rét rừng vừa giữ nguyên nét hào hoa, mơ về dáng kiều thơm.
- Việt Bắc: Khúc ca ân tình cách mạng 15 năm mặn nồng; kết cấu đối đáp ta — mình ngọt ngào như ca dao giao duyên, nỗi nhớ da diết cảnh và người chiến khu.
Ngữ văn 12 • Tự sự hiện đại
Chiếc thuyền ngoài xa — Nguyễn Minh Châu
Tác phẩm mở đường cho công cuộc đổi mới tư duy văn học sau năm 1975:
- Hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng: Phát hiện thứ nhất là vẻ đẹp toàn bích của con thuyền sớm mai; phát hiện thứ hai là cảnh tượng bạo lực gia đình tàn nhẫn khi thuyền cập bến.
- Câu chuyện ở tòa án huyện: Sự thấu hiểu của người đàn bà hàng chài về sự nhẫn nhục, hy sinh vì đàn con, làm sáng tỏ bài học nhìn nhận con người đa diện, nhiều chiều.
- Thông điệp nhân sinh: Nghệ thuật không thể đứng từ xa chiêm ngưỡng mà phải lặn sâu vào bề bộn cuộc đời để cảm thông với nỗi đau con người.
Hoa văn học trò Nguyễn Thông
Những bài văn đạt điểm 9+ — Bút tích học sinh trường ta
Các bài viết đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp Trường, cấp Tỉnh được các thầy cô Tổ Ngữ văn lưu giữ và chọn lọc.
9.5 Điểm
Giải Nhất HSG Cấp Tỉnh • Khối 12
Cảm nhận về 9 câu thơ đầu đoạn trích “Đất Nước” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Mai Phương — Lớp 12A1 (Trường THPT Nguyễn Thông)
“Mỗi nhà thơ khi viết về quê hương xứ sở đều chọn cho mình một điểm nhìn riêng biệt. Nếu Chế Lan Viên đau đáu với ngọn lửa cách mạng 'Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc', nếu Tố Hữu dạt dào ân tình với 'Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng', thì Nguyễn Khoa Điềm — một người con của xứ Huế thơ mộng — lại chọn cách đi tìm nguồn cội Đất Nước bằng chính những kỷ niệm ấu thơ ngọt ngào nhất.
Mở đầu đoạn trích, nhà thơ không viện dẫn những mốc son hào nhoáng của các triều đại Đinh, Lý, Trần, Lê, mà bắt đầu bằng một lời thủ thỉ ấm áp lạ kỳ: 'Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi'. Chữ 'đã có rồi' vang lên như một sự hiển nhiên tất yếu, khẳng định sự trường tồn bền bỉ của giang sơn từ ngàn đời trước khi mỗi sinh linh cất tiếng khóc chào đời. Đất Nước hóa thân trong 'miếng trầu bà ăn', trong 'câu chuyện ngày xửa ngày xưa mẹ kể', trong phong tục búi tóc sau đầu của người phụ nữ Việt Nam chân lấm tay bùn. Đất Nước lớn lên cùng hạt gạo phải 'một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng' — bốn động từ liên tiếp tái hiện sự cần lao vất vả của những người nông dân một đời chắt chiu sự sống. Bằng giọng thơ trữ tình chính luận tha thiết, Nguyễn Khoa Điềm đã chạm đến tầng sâu nhất của tâm thức cộng đồng: Đất Nước không phải là khái niệm trừu tượng xa xôi, Đất Nước kết tinh từ chính máu thịt, mồ hôi và văn hóa ngàn năm của Nhân dân...”
Lời phê của cô giáo chấm thi: “Bài viết có sự đĩnh đạc hiếm thấy ở lứa tuổi 18. Khả năng cảm thụ ngôn từ tinh tế, dẫn chứng so sánh văn học chuẩn mực và thể hiện niềm tự hào sâu sắc về cội nguồn dân tộc.”
9.25 Điểm
Giải Nhất HSG Cấp Trường • Khối 11
Vẻ đẹp thiên lương và khí phách của Huấn Cao trong cảnh cho chữ (“Chữ người tử tù” — Nguyễn Tuân)
Tác giả: Trần Hoàng Long — Lớp 11A3
“Nguyễn Tuân từng khẳng định mình suốt đời là một kẻ săn tìm cái Đẹp. Nhưng cái Đẹp trong văn học của ông không bao giờ tách rời cái Thiện và khí phách thiên lương. Đỉnh cao của quan niệm thẩm mỹ ấy kết tinh rực rỡ trong cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục — một cảnh tượng mà nhà văn xưng tụng là 'xưa nay chưa từng có'.
Chưa từng có là bởi lẽ cái Đẹp thuần khiết, thanh cao lại không được khai sinh nơi thư phòng lộng lẫy, mà được sinh thành nơi phòng giam tăm tối, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện và đất bừa bãi phân chuột, phân gián. Trong không gian nồng nặc mùi hôi thối ấy, ánh sáng đỏ rực của bó đuốc tẩm dầu bùng lên, mùi thơm của chậu mực bốc lên ngan ngát, xua tan bóng đêm ngục tù. Và kỳ diệu hơn cả là sự hoán đổi ngôi vị kỳ lạ: người tử tù ngày mai ra pháp trường chịu án chém lại đứng thẳng, đĩnh đạc tô từng nét chữ vuông vắn ban phát cái Đẹp; còn viên quan coi ngục uy quyền nắm trong tay sinh mạng kẻ khác lại khúm núm, chắp tay cúi đầu vâng dạ. Trước cái Đẹp và thiên lương bất diệt, quyền lực bạo tàn của ngục tù hoàn toàn bất lực. Đó là khúc tráng ca ngợi ca phẩm giá con người mà Nguyễn Tuân đã để lại cho văn học nước nhà...”
Lời phê: “Phân tích sâu sắc sự tương phản ánh sáng — bóng tối, nắm chắc phong cách tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuân. Bút lực dồi dào và thuyết phục.”
9.0 Điểm
Bài thi học kỳ xuất sắc • Khối 10
Bức tranh xuân trong trẻo và tình đời thiết tha trong “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử
Tác giả: Lê Thanh Trúc — Lớp 10A2
“Nói đến Hàn Mặc Tử, người ta thường nghĩ về một hồn thơ ma quái, đau thương với trăng và máu. Nhưng ít ai ngờ rằng, giữa những cơn đau đớn tột cùng của thể xác, người thi sĩ tài hoa ấy vẫn chắt chiu cho đời một đóa hoa xuân trinh bạch đến diệu kỳ: bài thơ 'Mùa xuân chín'.
Cái 'chín' của mùa xuân không chỉ nằm ở độ căng tràn của sắc màu thiên nhiên: 'Trong làn nắng ửng khói mơ tan / Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng / Sột soạt gió trêu tà áo biếc / Trên giàn thiên lý bóng xuân sang'. Câu thơ của Hàn Mặc Tử như một nét vẽ thủy mặc phương Đông, nơi màu sắc, ánh sáng và chuyển động của gió hòa quyện vào nhau tinh tế. Nhưng đặc sắc hơn cả là tiếng hát của những cô thôn nữ: 'Ngày mai trong đám xuân thời ấy / Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi'. Giữa lúc mùa xuân đạt tới độ viên mãn, rực rỡ nhất thì cũng là lúc người thi sĩ dự cảm về sự tàn phai, chia lìa của thanh xuân. Nỗi bâng khuâng ấy không làm bài thơ u ám, mà trái lại càng làm cho tình đời, tình người trở nên đằm thắm, thiết tha đến nao lòng...”
Lời phê: “Cảm nhận thơ rất có duyên. Phân tích tinh tế nhịp thơ và bước chuyển cảm xúc của thi nhân. Đáng khen ngợi!”
Cẩm nang thi cử
Phương pháp học tập & Kỹ năng phòng thi đạt điểm cao
Kinh nghiệm thực chiến được đúc kết từ các thủ khoa và thầy cô giáo Tổ Ngữ văn trường THPT Nguyễn Thông.
Công thức 5 bước làm đoạn văn Nghị luận Xã hội (200 chữ) ăn trọn 2.0 điểm
1. Mở đoạn trực tiếp (1 câu)
Nêu trực diện vấn đề nghị luận, dẫn dắt câu nói hoặc trích dẫn từ khóa của đề bài.
2. Giải thích vấn đề (1 - 2 câu)
Cắt nghĩa từ khóa, chỉ ra bản chất cốt lõi của phẩm chất/hiện tượng trong đời sống.
3. Bàn luận & Dẫn chứng (4 - 5 câu)
Tại sao điều đó lại quan trọng? Đưa 1 dẫn chứng người thật việc thật tiêu biểu (như thầy Nguyễn Ngọc Ký, đôi bạn Minh - Minh).
4. Phản biện & Mở rộng (2 câu)
Lật ngược vấn đề: Phê phán những biểu hiện lệch lạc, thụ động hoặc tiêu cực trong giới trẻ.
5. Bài học hành động (1 - 2 câu)
Liên hệ bản thân: Học sinh THPT Nguyễn Thông cần nhận thức và hành động cụ thể như thế nào hôm nay?
Kỹ năng Đọc hiểu
Bí quyết 15 phút giải quyết phần Đọc hiểu (3.0 điểm)
Nguyên tắc vàng: Đúng từ khóa — Ngắn gọn — Không lan man:
- Câu 1 (Nhận biết): Xác định đúng thể thơ, phương thức biểu đạt chính hoặc phong cách ngôn ngữ. Trả lời thẳng trong 1 dòng.
- Câu 2 (Thông hiểu): Tìm chi tiết trong văn bản, diễn đạt lại bằng lời văn của mình để tránh bị trừ điểm chép nguyên xi.
- Câu 3 & 4 (Vận dụng): Khẳng định quan điểm (Đồng tình/Không đồng tình), đưa ra 2 — 3 lý lẽ thuyết phục từ 3 — 5 dòng.
Kỹ năng NLVH
Nghệ thuật mở bài và kết bài gián tiếp ấn tượng
Gây thiện cảm tuyệt đối cho giám khảo chấm thi ngay từ trang viết đầu tiên:
- Mở bài bằng nhận định lý luận: Trích câu nói của Nam Cao về con người, của Thạch Lam về vũ khí văn chương trước khi dẫn vào tác phẩm.
- Mở bài bằng đối chiếu so sánh: Đặt hai nhân vật cùng số phận bên cạnh nhau (như người đàn bà hàng chài của Nguyễn Minh Châu và người vợ nhặt của Kim Lân).
- Kết bài đọng lại dư ba: Mở rộng bài học nhân sinh và giá trị nhân đạo trường tồn qua thời gian.
Quản lý thời gian
Chiến thuật phân bổ 120 phút phòng thi
Không bao giờ để bị 'cháy giáo án' trong phòng thi tốt nghiệp THPT:
- 15 phút đầu: Hoàn thành phần Đọc hiểu (3.0 điểm).
- 25 phút tiếp theo: Viết đoạn văn Nghị luận Xã hội 200 chữ (2.0 điểm).
- 75 phút: Dành trọn tâm huyết cho bài Nghị luận Văn học (5.0 điểm).
- 5 phút cuối: Rà soát lỗi chính tả, dấu câu, gạch chân bổ sung từ khóa.
Nền tảng lý luận
Kiến thức tiếng Việt & Lý luận văn học cốt lõi
Điểm tựa lý luận giúp bài viết nâng tầm từ văn kể tả thông thường lên bài văn có chiều sâu triết luận.
Lý luận văn học 01
Bản chất của văn học nghệ thuật
“Văn học là nhân học” (M. Gorki). Tác phẩm văn học không đơn thuần là ghi chép hiện thực, mà là sự phản ánh có chọn lọc:
- Hiện thực và sáng tạo: Cuộc đời là điểm xuất phát, nhưng người nghệ sĩ phải nhào nặn qua lăng kính tư tưởng và cảm xúc của mình.
- Tính hình tượng: Khái quát tư tưởng triết lý thông qua những chi tiết nghệ thuật cụ thể, sống động (như chi tiết bát cháo hành, tiếng sáo đêm xuân).
- Quy luật tình cảm: Văn học chân chính lay động người đọc bằng cảm xúc chân thật, “từ trái tim đến trái tim”.
Lý luận văn học 02
Giá trị nhân đạo trong tác phẩm văn học
Thước đo vĩ đại nhất để đánh giá một tác phẩm có sống mãi với thời gian hay không:
- Tố cáo thế lực bạo tàn: Lên án các thế lực chà đạp lên hạnh phúc và nhân phẩm con người (như chế độ thực dân phong kiến trong Chí Phèo, nhà thống lý Pá Tra trong Vợ chồng A Phủ).
- Xót thương, đồng cảm: Đau nỗi đau của kiếp người cơ cực (như Thạch Lam xót xa cho cuộc sống mòn mỏi của phố huyện nghèo).
- Phát hiện và ngợi ca: Trân trọng vẻ đẹp tâm hồn ẩn giấu bên trong vẻ ngoài xù xì, thô ráp (như nét thiên lương của Huấn Cao, khát vọng sống của Mị).
Thực hành Tiếng Việt
Hệ thống Biện pháp tu từ nâng cao
Bí quyết giải thích tác dụng nghệ thuật để không bị mất điểm trong phần Đọc hiểu:
- Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: “Từng giọt long lanh rơi / Tôi đưa tay tôi hứng” — Chuyển từ thị giác/thính giác sang xúc giác, tăng tính gợi cảm.
- Phép điệp từ, điệp ngữ: Tạo nhịp điệu hào hùng dồn dập hoặc da diết; nhấn mạnh nỗi nhớ trong Tây Tiến, Việt Bắc.
- Nghệ thuật chêm xen: Bộc lộ trực tiếp cảm xúc, nỗi niềm trăn trở của người viết (thường dùng trong văn xuôi trữ tình).