THPT Nguyễn Thông Trường THPT Nguyễn Thông — Vĩnh Long • Est. 2020 Dẫn chứng chính xác, nhận định chuẩn mực của các tác giả lớn
Chương III — Tra cứu & Dẫn chứng
Trang chủ / Kho Tư Liệu

Kho Tư Liệu Văn Học

Tổng hợp những nhận định kinh điển của các tác giả lớn và dẫn chứng người thật việc thật phục vụ viết bài Nghị luận Văn học & Nghị luận Xã hội.

Nghị luận văn học • Sứ mệnh văn chương
“Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình... Nó làm cho người gần người hơn.”
Nam Cao — Tác phẩm “Đời thừa” (1943)
Nghị luận văn học • Thiên chức ngòi bút
“Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn.”
Thạch Lam — Lời tựa tập truyện “Gió đầu mùa” (1937)
Danh nhân Nguyễn Thông • Tôn chỉ người cầm bút
“Văn chương hà tất cầu thâm áo / Chỉ yếu trung trần thấu bích thiên.
(Văn chương cần chi phải chuộng sự sâu xa huyền ảo / Cốt sao tấc lòng trung nghĩa thấu tận trời xanh).”
Cụ Nguyễn Thông (1827 — 1884) — Kỵ Mã thi tập
Nghị luận văn học • Tiếng nói tri âm
“Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có; cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương mà trở nên phong phú và rộng rãi đến trăm màu.”
Hoài Thanh — Tiểu luận “Ý nghĩa văn chương”
Đời sống xã hội • Vượt lên nghịch cảnh
“Bị liệt cả hai cánh tay từ năm lên 4 tuổi sau một cơn sốt bại liệt, nhưng cậu bé Nguyễn Ngọc Ký không đầu hàng số phận. Bằng đôi bàn chân co quắp rướm máu, thầy đã kiên trì tập viết từng nét chữ, tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp và trở thành Nhà giáo Ưu tú truyền cảm hứng cho muôn triệu học sinh Việt Nam.”
Dẫn chứng: Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Ngọc Ký (1947 — 2022)
Đời sống xã hội • Tình bạn tri kỷ
“Suốt 10 năm ròng rã không quản mưa nắng gió rét, cậu học trò Ngô Văn Minh đã tự nguyện cõng người bạn tật nguyền bẩm sinh Nguyễn Tất Minh vượt hàng cây số đến trường làng. Năm 2020, cả hai cùng thi đỗ đại học với số điểm trên 28 điểm. Đó là minh chứng thiêng liêng nhất cho một tình bạn không vụ lợi.”
Dẫn chứng: Đôi bạn Ngô Văn Minh & Nguyễn Tất Minh (Thanh Hóa)
Nghị luận • Tình yêu quê hương xứ sở
“Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!”
Chế Lan Viên — Bài thơ “Tiếng hát con tàu” (1960)
Đời sống xã hội • Sự cống hiến & Lòng nhân ái
“Trước khi qua đời vì căn bệnh hiểm nghèo năm 7 tuổi, bé Hải An cùng mẹ đã tình nguyện hiến tặng giác mạc, mang lại ánh sáng cho hai bệnh nhân khác. Ngọn lửa nhân ái của cô bé nhỏ tuổi đã đánh thức hàng triệu trái tim về ý nghĩa của việc cho đi trong cuộc đời.”
Dẫn chứng: Câu chuyện bé Hải An (Hà Nội, 2018)
Lý luận văn học • Giá trị con người
“Văn học là nhân học. Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào chính mình và phát triển ở nơi mình khát vọng vươn tới chân lý.”
Maxim Gorki — “Bàn về văn học”
Hồ sơ chuyên đề

Chân dung tác giả trọng tâm Chương trình THPT

Tư liệu tra cứu chính xác bối cảnh lịch sử, phong cách nghệ thuật và các tác phẩm học trong SGK Ngữ văn.

Danh nhân trường ta

Danh nhân Nguyễn Thông (1827 — 1884)

Quê quán: Tân An (nay thuộc Long An). Đỗ Cử nhân năm 1849, từng làm Đốc học Vĩnh Long.

  • Vai trò lịch sử: Cùng danh sĩ Phan Thanh Giản lập Văn Thánh Miếu Vĩnh Long, sáng lập Bình Dương thi xã — trung tâm văn hóa lớn của Nam Kỳ lục tỉnh thời bấy giờ.
  • Phong cách thơ văn: Bộc trực, khảng khái, giàu tinh thần yêu nước thương dân; văn thơ như vũ khí giữ gìn phong hóa và thức tỉnh sĩ khí dân tộc.
  • Tác phẩm tiêu biểu: Kỵ Mã thi tập, Ngọa Du sào văn tập, Kỳ Xuyên công độc.
Ngữ văn 10 • Nam Bộ

Nguyễn Đình Chiểu (1822 — 1888)

Vị thế: Nhà thơ mù vĩ đại của Nam Bộ, tấm gương sáng ngời về nghị lực sống và lòng yêu nước bất khuất.

  • Quan niệm văn học: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm / Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” — coi ngòi bút là vũ khí chiến đấu vì đạo nghĩa.
  • Đóng góp kiệt xuất: Tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tượng đài nghệ thuật đầu tiên bằng ngôn từ tạc vào lịch sử hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ Nam Bộ xả thân cứu nước.
  • Tác phẩm SGK: Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.
Ngữ văn 11 • Hiện thực

Nam Cao (1915 — 1951)

Vị thế: Cây bút hiện thực xuất sắc nhất của nền văn học hiện thực phê phán Việt Nam thế kỷ 20.

  • Đặc trưng thi pháp: Nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật bậc thầy; kết cấu truyện đảo lộn trật tự thời gian; giọng điệu đa thanh, thấm đượm nỗi xót thương con người.
  • Đề tài xuyên suốt: Người nông dân nghèo bị tha hóa (Chí Phèo, Lão Hạc) và người trí thức nghèo bị gánh nặng cơm áo ghì sát đất (Đời thừa, Trăng sáng).
  • Tác phẩm SGK: Chí Phèo, Đời thừa, Lão Hạc.
Ngữ văn 12 • Thơ kháng chiến

Quang Dũng (1921 — 1988)

Vị thế: Người nghệ sĩ đa tài (làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc) gắn liền với núi rừng Tây Bắc hiểm trở.

  • Hồn thơ: Hồn hậu, lãng mạn, phóng khoáng và vô cùng tài hoa; kết hợp nhuần nhuyễn cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng.
  • Tác phẩm đỉnh cao: Bài thơ Tây Tiến (1948) — bức tượng đài bất tử về người lính vệ quốc đoàn hào hoa giữa thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, khắc nghiệt.
  • Trích dẫn tiêu biểu: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc / Quân xanh màu lá dữ oai hùm / Mắt trừng gửi mộng qua biên giới / Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.”
Ngữ văn 12 • Trường ca

Nguyễn Khoa Điềm (Sinh năm 1943)

Vị thế: Thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong khói lửa kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

  • Đặc trưng nghệ thuật: Chất trữ tình — chính luận hòa quyện nồng nàn; tư duy thơ giàu tính triết luận và suy tư sâu sắc về nhân dân, đất nước.
  • Tác phẩm SGK: Đoạn trích “Đất Nước” (trích chương V trường ca Mặt đường khát vọng, sáng tác tại chiến khu Trị — Thiên năm 1971).
  • Tư tưởng cốt lõi: Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” nhìn qua chiều sâu huyền thoại, ca dao cổ tích và phong tục truyền thống.
Ngữ văn 11 • Tùy bút

Nguyễn Tuân (1910 — 1987)

Vị thế: Bậc thầy ngôn ngữ, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái Đẹp chân chính trong cuộc đời.

  • Phong cách: Tài hoa, uyên bác; tiếp cận con người và sự vật ở góc độ văn hóa, mỹ thuật; nhân vật luôn là người tài hoa nghệ sĩ trong nghề nghiệp của mình.
  • Trước và sau 1945: Trước Cách mạng say mê quá khứ (Vang bóng một thời, Huấn Cao); sau Cách mạng say mê người lao động dựng xây đất nước (Người lái đò Sông Đà).
  • Tác phẩm SGK: Chữ người tử tù, Người lái đò Sông Đà.